Khoảng cách vì kèo mái ngói xác định thế nào?

Khoảng cách vì kèo mái ngói xác định thế nào?

| |THI CÔNG MÁI NGÓI

Khoảng cách vì kèo mái ngói xác định thế nào?

Làm mái ngói có một con số rất hay bị lấy theo thói quen, đó là khoảng cách giữa các vì kèo. Có đội quen làm 1 m. Có đội 1,1 m. Có nơi lại lấy 1,2 m rồi cứ thế áp cho nhiều công trình. Nhưng thực tế, khoảng cách vì kèo không nên làm theo kiểu nhớ một con số rồi dùng cho tất cả. Cùng là mái ngói nhưng mỗi công trình có thể khác nhau về khẩu độ, loại thép, tải trọng, hình dáng mái, loại ngói và cả cách tổ chức hệ khung. Chỉ cần một trong những yếu tố đó thay đổi thì khoảng cách vì kèo cũng có thể phải thay đổi theo. Nói đơn giản, 1,2 m có thể đúng với mái này nhưng chưa chắc đúng với mái khác.

Thi công mái ngói

Trước hết phải xác định đúng mình đang nói đến “vì kèo” nào

Đây là chỗ nhiều người hay gọi lẫn. Có mái dùng hệ vì kèo chịu lực chính, phía trên mới bố trí tiếp các lớp đỡ ngói. Có mái bê tông dốc thì lại chỉ cần làm hệ cầu phong và li tô phía trên. Có những hệ khung khác lại tổ chức thành 2 lớp hoặc 3 lớp. Nhìn bằng mắt có thể đều thấy “thanh thép nằm dưới ngói”, nhưng nhiệm vụ của từng thanh không giống nhau.

Vì kèo là một bộ khung chịu lực hoàn chỉnh, thường có dạng tam giác hoặc theo hình học của mái, chạy theo phương ngang nhà và được lặp lại dọc theo chiều dài công trình. Nó không phải một thanh thép đơn lẻ. Một vì kèo thường gồm các thanh cánh và thanh bụng liên kết với nhau để tạo thành một khung chịu lực. Nhiều vì kèo đặt song song nhau mới tạo nên hệ khung chính của mái.

Hình ảnh thi công vỉ kèo tại công trình 

Vậy vì kèo thường cách nhau bao nhiêu?

Trong thực tế các công trình Thế Giới Ngói triển khai, khoảng cách giữa các vì kèo thường nằm trong khoảng 1,2 m trở xuống. Tuy nhiên đây không phải con số cố định để áp dụng cho mọi bộ mái. Khoảng cách thực tế còn phụ thuộc vào loại thép sử dụng, độ dày của thép, cấu tạo của bộ vì kèo, khẩu độ mái và tải trọng mà hệ khung phải chịu. Cùng một khoảng cách 1,2 m nhưng nếu thay đổi loại thép, độ dày thép hoặc cấu tạo vì kèo thì khả năng chịu lực của hệ khung cũng thay đổi. Vì vậy có công trình bố trí khoảng 1,2 m, nhưng cũng có công trình cần thu ngắn hơn. Quan trọng nhất là khoảng cách đó phải phù hợp với chính bộ vì kèo đang sử dụng và phương án kết cấu của công trình.

Khoảng cách Lito

Hình ảnh thi công vỉ kèo tại công trình 

Một mái nhỏ và một mái lớn không thể bê nguyên khoảng cách cho nhau

Ví dụ một bộ mái nhà cấp 4 có khẩu độ vừa phải sẽ khác hoàn toàn với một mái biệt thự có các nhịp lớn, nhiều khối mái và nhiều điểm giao nhau. Khi khẩu độ và điều kiện chịu tải của mái thay đổi thì phương án vì kèo cũng cần được tính lại. Có trường hợp phải thay đổi loại thép, độ dày thép, cấu tạo bộ vì kèo hoặc thu ngắn khoảng cách giữa các vì kèo để hệ khung phù hợp với công trình. Vì vậy không nên thấy công trình trước làm khoảng 1,2 m rồi sang công trình sau cũng lấy nguyên 1,2 m. Hai bộ mái nhìn khá giống nhau nhưng phần kết cấu bên dưới có thể hoàn toàn khác.

Hình ảnh thi công vỉ kèo tại công trình 

Loại ngói cũng có ảnh hưởng

Hệ vì kèo không chỉ đỡ một bộ khung thép phía trên mà cuối cùng vẫn phải nhận toàn bộ tải trọng của mái. Ngói nhẹ hay nặng khác nhau. Các lớp phụ trợ đi cùng mái cũng khác nhau. Nếu ban đầu hệ khung được tính cho một dòng ngói nhưng sau đó chủ nhà đổi sang loại khác có trọng lượng khác đáng kể thì ít nhất cũng nên kiểm tra lại phương án. Không có nghĩa cứ đổi ngói là phải làm lại khung. Nhưng cũng không nên mặc định “ngói nào chẳng giống nhau”.

Mái càng nhiều khối, cách bố trí càng khó làm đều tuyệt đối

Với những bộ mái Nhật có nhiều khối, nhiều mái phụ hoặc nhiều vị trí giao nhau, cách tổ chức hệ khung sẽ phức tạp hơn một mặt mái đơn. Tại các vị trí giao mái hoặc thay đổi hình khối có thể phải bổ sung thêm những cấu kiện để tạo hình và đỡ hệ mái. Những thanh thép này không phải tất cả đều là vì kèo. Vì vậy khi nhìn một bộ khung mái Nhật, không nên thấy các thanh thép có khoảng cách khác nhau rồi cho rằng hệ vì kèo thi công không đều. Muốn đánh giá đúng phải xác định từng cấu kiện đang làm nhiệm vụ gì và đối chiếu với bản vẽ triển khai của chính bộ mái đó.

Hình ảnh thi công vỉ kèo tại công trình 

Có nên kéo khoảng cách vì kèo ra để bớt thép?

Nếu thiết kế đang là 1,1 m mà ra công trường tự kéo thành 1,3 m chỉ để giảm vài thanh thép thì không nên. Khoảng cách tăng lên đồng nghĩa mỗi vì kèo phải gánh phần mái lớn hơn. Có thể lúc vừa dựng xong nhìn vẫn thấy chắc. Nhưng bộ mái không chỉ cần đứng vững trong ngày nghiệm thu. Nó còn phải làm việc nhiều năm với trọng lượng ngói, mưa, gió và sự thay đổi của thời tiết. Tiết kiệm được một ít thép ở thời điểm thi công nhưng nếu đổi luôn cách làm việc của hệ khung thì không đáng.

Nhưng chia dày hơn chưa chắc đã hay

Chiều ngược lại cũng vậy. Có người nghĩ cứ tăng thêm vì kèo là chắc hơn. Thực ra nếu hệ đã được tính đủ thì làm dày thêm chủ yếu là tăng vật tư và tăng số lượng điểm liên kết. Một bộ mái tốt không phải là bộ mái dùng thật nhiều thép. Nó là bộ mái dùng đúng lượng thép cần thiết, đúng vị trí và đúng cách liên kết. Đây là hai chuyện khác nhau.

Hình ảnh thi công vỉ kèo tại công trình 

Khi nào nên chốt khoảng cách vì kèo?

Trước khi dựng khung. Lúc này cần có kích thước thực tế của mái, khẩu độ, các điểm đỡ, hình dạng mái và loại vật liệu dự kiến sử dụng. Từ đó mới lên được phương án bố trí. Khi ra công trường, vị trí từng vì kèo phải được lấy dấu và kiểm tra ngay từ đầu. Nếu phần này lệch, các lớp phía trên sẽ phải chạy theo cái sai của hệ khung. Đến khi đã bắn cầu phong, li tô rồi mới quay lại chỉnh vì kèo thì công việc phức tạp hơn rất nhiều.

Cuối cùng, khoảng cách bao nhiêu mới là đúng?

Trong thực tế thi công của Thế Giới Ngói, khoảng cách giữa các vì kèo thường được bố trí từ khoảng 1,2 m trở xuống. Nhưng đây chỉ là khoảng thường gặp trong các công trình thực tế, không phải một con số cố định cho mọi hệ mái. Khoảng cách vì kèo còn phải xét cùng với loại thép, độ dày thép, cấu tạo của bộ vì kèo, khẩu độ và tải trọng mái. Chỉ cần một trong những yếu tố này thay đổi thì phương án bố trí vì kèo cũng có thể phải thay đổi theo. Vì vậy nên nhìn cả bộ hệ khung đang sử dụng. 1,2 m có thể phù hợp với công trình này, nhưng công trình khác có thể cần thu xuống 1,1 m, 1 m hoặc một khoảng khác theo tính toán của hệ mái.

Viết bình luận